Trẻ tự kỷ

Rối loạn phổ tự kỷ (ASD) và tự kỷ là hai thuật ngữ được sử dụng để chỉ một nhóm các rối loạn phức tạp của sự phát triển não bộ. Những rối loạn này gây ra những khó khăn trong tương tác xã hội, giao tiếp, ngôn ngữ và hành vi lặp lại ở những mức độ khác nhau.

Tự kỷ có thể đi kèm với các khuyết tật trí tuệ, khó khăn trong việc phối hợp vận động, ngôn ngữ, sự chú ý và các vấn đề sức khỏe thể chất như giấc ngủ và rối loạn tiêu hóa. Một số trẻ tự kỷ khá nổi trội trong các kỹ năng liên quan tới thị giác, âm nhạc, toán học và nghệ thuật.Tự kỷ có nguồn gốc từ trong giai đoạn phát triển rất sớm của não bộ. Tuy nhiên, những dấu hiệu và triệu chứng rõ ràng nhất của tự kỷ thường xuất hiện khi trẻ nằm trong độ tuổi từ 2 đến 3 tuổi.

Các dấu hiệu của tự kỷ?

Tự kỷ có nhiều đặc điểm đa dạng từ mức nhẹ đến nặng. Những trẻ mắc chứng tự kỷ thường:

• Có khó khăn trong giao tiếp với người khác: trẻ không cười, nhìn vào mắt người đối diện, không có tương tác với người chăm sóc, không bò/ đi đến người chăm sóc để được bế. Trẻ nói những từ, ngữ không có nghĩa, hay gầm gừ, có sự lặp lại không ngừng một từ hay một câu vô nghĩa. Trẻ như điếc mặc dù thính lực bình thường (giật mình khi có tiếng động).
• Có những hành vi dập khuôn, lặp đi lặp lại, ví dụ như lắc lư người ra phía trước và phía sau, đập đầu, giữ khư khư một đồ vật, bật tắt công tắc liên tục, chuyển đồ chơi từ tay này sang tay khác liên tục…
• Ít hứng thú và ít hoạt động. Trẻ em tự kỷ không phát triển được hoạt động chơi mang tính sáng tạo, ví dụ như trò chơi đóng vai “chúng ta hãy giả vờ là…”, theo cách mà những trẻ khác thường chơi. Việc chơi của trẻ Tự kỷ thường cứng nhắc dập khuôn: xoay bánh xe ô tô thay vì cho xe chạy, ít chơi lần lượt với bạn hoặc với anh chị em trong nhà…
• Khó thích ứng với sự thay đổi hoàn cảnh hoặc những công việc/ diễn biến thường diễn ra hàng ngày. Trẻ Tự kỷ cứng nhắc trong tư duy vì vậy trẻ gặp khó khăn để hiểu và tự điều chỉnh khi có sự thay đổi: trẻ đi theo một con đường nhất định để về nhà hoặc đến trường..., chơi xếp hình chỉ theo cách riêng của từng trẻ, chỉ ăn một thức ăn nhất định (cháo, bánh mì..). Nếu thay đổi cách khác với trẻ, lập tức trẻ phản ứng mạnh mẽ (la khóc, cào cấu…) để chống lại sự thay đổi.
• Những trẻ mắc hội chứng Tự kỷ thường bị ám ảnh với những vật cá biệt hay những hành vi đặc biệt, tập trung vào chúng mà không quan tâm đến những việc khác xung quanh.Trẻ cũng có “những vùng phát triển khả năng đặc biệt”. Một số trẻ tự kỷ tổn thương nặng ở nhiều khả năng nhưng họ cũng có thể thể hiện được những tài năng như trong lĩnh vực âm nhạc, nghệ thuật, toán và cơ khí.

Các dấu hiệu của chứng tự kỷ thường xuất hiện sớm từ những năm đầu đời, nhưng đôi khi chúng cũng xuất hiện sau một số tháng phát triển bình thường. Trong hầu hết các trường hợp, không thể xác định được sự kiện nào là sự kiện khiến trẻ đang phát triển bình thường lại dần thoái triển, rơi vào chứng tự kỷ. <.p>

Cha mẹ nên đưa trẻ đến các nhà chuyên môn (bác sĩ nhi, nhà tâm lý học, bác sĩ tâm thần...) nếu:
• 12 tháng tuổi, trẻ không bập bẹ, bi bô.
• 12 tháng tuổi, trẻ không ra hiệu, làm điệu bộ như vẫy tay, chỉ chỏ, với đồ chơi…
• 16 tháng tuổi, trẻ không nói được từ nào.
• 2 tuổi, trẻ không nói được câu ngắn nào đáp trả.
• Ở mọi độ tuổi, có sự mất/ suy thoái các kĩ năng ngôn ngữ và xã hội.

Sàng lọc tự kỷ

Để bước đầu phát hiện xem trẻ em có nguy cơ bị châm phát triển hay không, ta có thể sử dụng một số công cụ sàng lọc được thiết kế đặc biệt để nhận biết một rối loạn (ví dụ, tự kỷ) hoặc để nhận biết một lĩnh vực (ví dụ, phát triển nhận thức, ngôn ngữ, hoặc các kỹ năng vận động thô), hoặc các công cụ có thể đánh giá tổng thể, bao gồm nhiều lĩnh vực mà cha mẹ đang lo lắng.

Công cụ sàng lọc không đưa ra kết quả chẩn đoán xác định. Nếu trẻ có kết quả sàng lọc dương tính thì trẻ nên được chuyên gia nhi đánh giá toàn diện thêm. Công cụ sàng lọc không cung cấp thông tin chuyên sâu về một lĩnh vực phát triển của trẻ. Có rất nhiều công cụ sàng lọc phát triển khác nhau. Tuy nhiên, cha mẹ có thể sử dụng M-Chat-R/F: Công cụ sàng lọc Rối loạn phổ tự kỷ. Công cụ này được Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ CDC và Tổ chức Y tế Thế giới WHO khuyến cáo sử dụng (*).

Bảng kiểm sàng lọc tự kỷ có chỉnh sửa cho trẻ em dưới 30 tháng tuổi (M-CHAT-R) 
 M-CHAT-R là Bảng kiểm sàng lọc tự kỷ cho trẻ từ 16 –30 tháng (sau khi được tác giả Diana Robins tư vấn, trong bối cảnh Việt Nam thiếu công cụ sàng lọc tự kỷ, cha mẹ có thể sử dụng công cụ này sàng lọc tự kỷ cho trẻ 16-48 tháng). Cha mẹ sẽ hoàn thành bộ câu hỏi này để tìm hiểu xem con mình có nguy cơ với tự kỷ không.
Phụ lục: Sổ tay về tự kỷ của Bác sỹ (có bao gồm Công cụ M-CHAT-R)


Can thiệp/Trị liệu


Phát hiện sớm là điều có ý nghĩa quan trọng cho việc trị liệu trẻ mắc chứng tự kỷ, vì khi được phát hiệp và can thiệp sớm, trẻ sẽ được trợ giúp để phát triển ngay từ đầu các kĩ năng ngôn ngữ, xã hội, nhận thức. Việc can thiệp cho trẻ tự kỷ thường bao gồm:
• Luyện tập, giáo dục cho trẻ các kĩ năng ngôn ngữ, nhận thức, xã hội và kĩ năng tự phục vụ bản thân.
• Tìm kiếm sự tư vấn, hướng dẫn từ các chuyên gia để hỗ trợ trẻ.
• Không có cách chữa nào có thể làm biến mất hoàn toàn chứng tự kỷ. Việc can thiệp/ trị liệu chỉ nhằm khống chế và giảm bớt các triệu chứng, giúp trẻ cải thiện thực hiện các chức năng cơ bản.


Nguyên nhân của tự kỷ là gì?

Trong những năm qua, các nhà khoa học đã xác định được một số thay đổi về gen hiếm gặp, hoặc đột biến có liên quan tới bệnh tự kỷ. Trong hầu hết các trường hợp được chẩn đoán tự kỷ đều cho thấy có sự kết hợp của các gen có nguy cơ tự kỷ và các yếu tố môi trường làm ảnh hưởng đến sự phát triển sớm của não bộ.
Bên cạnh yếu tố di truyền thì một số yếu tố không mang tính di truyền và môi trường có khả năng làm tăng thêm nguy cơ mắc bệnh của một đứa trẻ. Bằng chứng rõ ràng nhất về các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tự kỷ là sự xuất hiện của các sự kiện trước và trong khi sinh. Chúng bao gồm tuổi tác của cha mẹ tại thời điểm thụ thai, bệnh tật của người mẹ trong thời kỳ mang thai và khó khăn nhất định trong khi sinh, đặc biệt là những yếu tố liên quan đến sự thiếu hụt oxy cho não của bé. Điều quan trọng cha mẹ nên nhớ rằng, bản thân những yếu tố này không gây ra bệnh tự kỷ. Mà chỉ khi kết hợp với các yếu tố nguy cơ di truyền, thì sẽ làm tăng rủi ro mắc bệnh cho một đứa trẻ.
Một nghiên cứu cho thấy rằng, người mẹ có thể giảm nguy cơ mắc tự kỷ của con mình bằng cách bổ sung các vitamin có chứa axit folic và / hoặc ăn một chế độ ăn uống giàu axit folic (ít nhất 600 mcg một ngày) trong suốt những tháng trước và sau thụ thai.
Các nhà khoa học cũng đang tiến hành nghiên cứu để xem xét vai trò của hệ miễn dịch ở trẻ tự kỷ. Hy vọng kết quả đạt được sẽ giúp người tự kỷ có thể cải thiện cuộc sống của mình và nâng cao kết quả điều trị.

Sẽ ra sao nếu con bạn không may bị tự kỷ?

Mỗi cá nhân tự kỷ là duy nhất, không ai giống ai. Nhiều người mắc hội chứng phổ tự kỷ có những khả năng đặc biệt về âm nhạc, thị giác, khả năng học tập. Khoảng 40 % số người bị tự kỷ có khả năng trí tuệ trên mức trung bình. Thật vậy, nhiều người mắc tự kỷ tự hào và xứng đáng với những khả năng đặc biệt của họ. Khác với chứng tự kỷ có khuyết tật đáng kể và không thể sống độc lập, khoảng 25% số trẻ mắc tự kỷ không thể sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp nhưng trẻ hoàn toàn có thể học cách giao tiếp bằng cách sử dụng các phương tiện khác.
Hiện nay các phương pháp điều trị can thiệp để cải thiện hành vi, ngôn ngữ cho trẻ kết hợp song song sử dụng các sản phẩm bổ não đặc hiệu cho trẻ tự kỷ giúp tăng cường trí não, tăng cường khả năng hoạt động của hệ thần kinh, tăng khả năng tập trung và phản xạ cho trẻ. Phương pháp kết hợp này sẽ giúp trẻ sớm cải thiện được các chức năng ngôn ngữ, vận động và tương tác xã hội và hòa nhập cộng đồng tốt hơn.